Phong Hà Cử – Đào Tử Nhi - Chương 8 - Trà hội (2)
Chương 8: Trà hội (2)
Hiện nay tình hình triều chính, các phu nhân trong các phủ cũng ít nhiều
được nghe trượng phu mình kể qua, ai nấy đều hiểu rõ rằng tuy ngoài mặt
các vị tướng và quan đại thần có vẻ hòa thuận, nhưng thực chất bên trong
lại đang âm thầm đấu đá quyết liệt. Nay hai nước Ngụy và Lương đều không
yên ổn, chiến sự cận kề, Thượng Trụ Quốc vì thế mà địa vị càng thêm tôn
quý, quyền thế khuynh đảo triều đình. Dù sao nếu thiếu mất vị này, Bắc
Ngụy muốn tìm ra một người có thể sánh ngang với Tề Kính Thần bên Đại
Lương, e là không dễ. Chỉ là, tuy Cố Cư Hàn lợi hại như vậy, nhưng Trâu
tể tướng cũng chẳng phải hạng dễ đối phó. Nay thiên tử tuổi trẻ cường
thịnh, lại vì hoàng hậu mà cực kỳ sủng tín Trâu gia. Huống hồ về sau khi
thiên tử băng hà, người kế vị là Cao Kính lại mang một nửa huyết thống
của Trâu gia, xét về lâu dài thì vẫn là Trâu gia chiếm thế thượng phong.
Vì vậy, khi Trang thị vừa xuất hiện, các phu nhân liền không tiện tiếp
tục quây quần lấy Thẩm Tây Linh để tâng bốc nữa, ai nấy đều kín đáo
nghiêng về phía Trang thị. Tuy vậy, hành động của họ dẫu có nhanh nhẹn
khéo léo đến đâu cũng không bằng được với Bình Cảnh Hầu phu nhân, người
từ đầu đã chẳng hề nịnh bợ Thẩm Tây Linh. Vừa khi Trang thị yên vị ngồi
xuống, Bình Cảnh Hầu phu nhân đã lên tiếng bắt chuyện. Sau đôi lời chào
hỏi, bà ta liền khen vẻ mặt hồng hào của Trang thị, rồi thuận miệng hỏi
xem hôm nay Trâu tể tướng cùng hai vị công tử có đến hay không. Trang
thị mỉm cười đáp: “Lão gia bận việc triều chính không rảnh, Thuần Nhi ở
nhà giúp phụ thân, hôm nay chỉ có một mình Tiện Nhi đến thôi.” Bình Cảnh
Hầu phu nhân cười đáp: “Tể tướng cùng đại công tử vì quốc sự mà lao tâm
khổ tứ, hôm nay không thể đến quả là điều tiếc nuối. May mà nhị công tử
có mặt, cũng có thể khiến người Đại Lương phải nhìn nhận tài học của
công tử nhà thế gia Bắc Ngụy chúng ta.” “Thôi đừng nói vậy!” Trang thị
mỉm cười xua tay. “Tính tình Tiện Nhi thế nào ngươi cũng biết, vốn không
thích xuất hiện trước người ngoài. Hôm nay nó vốn chẳng muốn đến, là do
Lục tiên sinh cố ý gọi đi, ta cũng chỉ mong nó có cơ hội va chạm, mở
mang tầm mắt mà thôi.” “Phu nhân thật khiêm nhường quá!” Bình Cảnh Hầu
phu nhân cười nói. “Với tài học của nhị công tử, hôm nay tất sẽ nổi bật
hơn người, làm gương mẫu cho đấng sĩ tử nước ta…” Lời còn đang nói dở,
bỗng thấy một tiểu đồng từ tiền viện hớt hải vượt qua những dãy hành
lang gấp khúc mà chạy vào hậu viện, thông báo với đám phu nhân tiểu thư
trong đó rằng Sứ Quân của Đại Lương đã tới và hiện đã ngồi vào chỗ.
Chính là chỗ khéo léo của Chung phu nhận vậy. Bà hiểu rõ hôm nay lòng dạ
của các nữ quyến chẳng còn đặt vào việc uống trà, ai nấy đều chỉ mong
được tận mắt nhìn thấy diện mạo thật sự của Tề Kính Thần. Chỉ tiếc sân
viện ngăn cách nên không thể như ý, thế là bà chu đáo sai tiểu đồng
thường xuyên đưa tin tức từ tiền viện về hậu viện từng chút một, để phần
nào thỏa mãn sự tò mò của đám nữ quyến. Sự chu đáo thấu hiểu lòng người
ấy quả nhiên nhận được nhiều lời tán thưởng. Các nữ quyến đều ngừng lời
khách sáo, vừa dùng trà vừa chăm chú lắng nghe động tĩnh từ tiền viện.
Mà trong lúc mọi người đang xôn xao, tự nhiên chẳng ai chú ý rằng khi
tiểu đồng bước vào truyền tin, Yến Quốc Công phu nhân người xưa nay luôn
trầm lặng lạnh nhạt lại vô ý làm đổ một chén trà. Lũ tiểu đồng qua lại
rất nhanh, có bốn đứa thay phiên nhau đưa tin. Chỉ là lời lẽ giữa các
đại nhân ở tiền viện lại phức tạp quá mức, nhất là những phần luận kinh
bàn đạo, huyền môn ảo lý khiến bọn trẻ nghe mà như lạc giữa mây mù,
chẳng thể nào nhớ hết từng câu từng chữ. Cũng may các phu nhân chẳng bận
tâm điều đó, họ chỉ nhất loạt hỏi vị Sứ Quân của Đại Lương kia, rốt cuộc
có dung mạo ra sao? Mấy tiểu đồng ấy đều từng bị hỏi tới, lúc trả lời
thì lại tỏ ra lúng túng, một đứa đáp: “Rất tuấn tú!” Một đứa lại nói:
“Đẹp đến chẳng thể nói thành lời!” Một đứa lanh lợi hơn thì đáp rằng:
“Phong thái cao nhã! ” Còn đứa giỏi nhất lại dùng từ: “Chi lan ngọc
thụ.”* *Chi lan ngọc thụ là một thành ngữ mang nghĩa ẩn dụ, dùng để ca
ngợi con cháu của người hiền tài, có phẩm chất cao quý, như cây lan, cây
ngọc những loài cây biểu tượng cho sự thanh cao và quý giá. Chỉ vài câu
ngắn ngủi, kỳ thực cũng chẳng nói rõ được điều gì, nhưng lại khiến đám
nữ quyến trong lòng ngứa ngáy, ai nấy đều hận không thể cùng bọn tiểu
đồng lao ngay ra tiền viện, tận mắt ngắm kỹ Tề Kính Thần một phen. Các
nàng đều biết lũ tiểu đồng chẳng thể tả nổi rõ ràng, chỉ muốn hỏi một
câu thật chắc chắn. Tề Kính Thần của Đại Lương, nếu so về dung mạo thì
liệu có hơn được Yến Quốc Công không? Chỉ tiếc Yến Quốc Công phu nhân
đang ngồi ngay ngắn tại chỗ, một chuẩn mực tốt như thế lại không thể
nhắc tới, thật khiến người ta tiếc nuối. Bởi lũ tiểu đồng chẳng ai nói
được rành rẽ dung mạo của Tề Kính Thần, các phu nhân đành phải chuyển
sang nghe những chuyện khác. Tiểu đồng nói, các vị đại nhân đã bắt đầu
nhập tiệc, nâng chén mời rượu, không khí rất náo nhiệt. Sau đó là các
học giả trong thái học viện khơi mào, muốn cùng Tề Kính Thần luận bàn
học vấn, giờ đã bắt đầu biện luận rồi. Một tiểu đồng truyền lời: “Sứ
Quân Đại Lương nói, ‘Kính Thần là kẻ hậu sinh, đâu dám cùng các tiên
sinh biện luận?’ Nhưng các học giả nói, hôm nay trong tiệc có nhiều tài
tử Bắc Ngụy, nếu có thể cùng Sứ Quân biện luận, ắt sẽ gặt hái được nhiều
điều, mong sứ quân chớ nên thoái thác.” Một tiểu thư vội hỏi: “Vậy ngài
ấy đáp thế nào?” Tiểu đồng đáp: “Sứ quân nói: ‘Nếu đã thế, Kính Thần xin
không dám từ chối.’” Chỉ đôi ba câu, cũng đủ để trong lòng các nữ quyến
hiện lên hình ảnh một danh sĩ Giang Tả phong lưu, càng khiến họ mong
ngóng những diễn biến tiếp theo. Cuối cùng cũng chờ được tiểu đồng quay
lại, nói rằng công tử nhà Thái Sử Lệnh là Ngô Trân là người đầu tiên lên
luận văn với Tề Kính Thần. Một lúc sau, một tiểu đồng khác chạy vào báo
tin: công tử Ngô gia đã thua. Các phu nhân vô cùng kinh ngạc. Bởi lẽ
công tử nhà Thái Sử Lệnh cũng được xem là có tài, tuy không nổi danh như
nhị công tử nhà Trâu tể tướng nhưng vẫn có danh tiếng, vậy mà lại thua
chóng vánh như thế, thật khiến người bất ngờ. “Thua thế nào vậy?” Tiểu
đồng đáp: “Sứ Quân nói Ngô công tử đọc * rất vững, nhưng phần hiệu chú
lại khá mơ hồ, sau đó cùng các học giả trao đổi rất nhiều dị bản và các
bản chú thích, cuối cùng các học giả đều công nhận Ngô công tử đã thua.”
*Một trong Tứ Thư, sách kinh điển nho giáo. Các phu nhân thì chẳng ai
từng đọc , càng không biết hiệu chú hay chú thích là gì, chỉ biết Tề
Kính Thần thắng, thế là trong lòng đã vô cùng hả hê, cảm thấy vị danh
thần đất Giang Tả kia quả nhiên danh xứng với thực. Về sau các tiểu đồng
tiếp tục quay lại truyền tin, kể rằng từng vị công tử khác cũng lần lượt
lên biện luận cùng Tề Kính Thần. Đáng tiếc là không ai thắng nổi, càng
khiến các phu nhân thêm phần thán phục. Song, dù ngưỡng mộ thì vẫn là
người Bắc Ngụy, thấy người nhà mình cứ thua mãi thì cũng khó mà vui nổi.
Dù lòng khâm phục Tề Kính Thần, họ vẫn mong có một người Ngụy có thể làm
chàng bớt kiêu ngạo đôi phần. Chờ mãi chờ mãi, cuối cùng cũng đợi được
nhị công tử nhà Trâu tể tướng ra mặt. Họ đặt kỳ vọng rất lớn vào vị công
tử ấy. Dù sao hắn cũng là người kiệt xuất trong thế hệ học sĩ trẻ của
Bắc Ngụy, nếu cả hắn cũng thua dưới tay Tề Kính Thần, e rằng chỉ còn các
học giả đích thân ra trận mới mong thắng nổi. Các nữ quyến trông đợi tha
thiết, chỉ hận bọn tiểu đồng sao mà chậm chạp quá mức. Đợi rất lâu, mới
thấy một đứa quay lại báo tin: “Nhị công tử và Sứ Quân biện luận đã lâu
mà chưa phân thắng bại, các câu hỏi của Sứ Quân, nhị công tử đều đáp
được, Sứ Quân khen ngợi công tử học vấn vững vàng.” “Vậy… vậy nhị công
tử xem như thắng rồi sao?” Tiểu đồng nhất thời không đáp nổi. Lại nghe
thấy tiếng bước chân gấp gáp, một tiểu đồng khác chạy vào, nói: “Sứ Quân
bảo, khi nhị công tử lập luận đã trích dẫn để lập luận là tác phẩm nguỵ
tạo. Nhị công tử không thể phản biện khiến Lục học giả nổi giận, hiện đã
tự mình ra mặt biện luận với Sứ Quân.” Nghe đến đây, cả hậu viện liền
xôn xao. Tuy không am hiểu quy củ của tiệc rượu giữa nam nhân nhưng họ
đều hiểu với địa vị và tuổi tác như Lục học giả vốn không nên tự mình
tham gia biện luận, giờ mà thực sự xắn tay áo lên tranh luận thì đúng là
có phần thất thố. Các phu nhân nhìn kỹ, thấy từ lúc tiểu đồng nói “nhị
công tử không thể phản biện”, sắc mặt Trang thị đã có phần khó coi liền
biết bà ta tuy ngoài miệng luôn bảo con mình chẳng tài cán gì, nhưng
trong lòng lại chẳng chịu nổi nếu thấy con thua người khác. Vậy nên
trong khoảng thời gian dài dằng dặc chờ tin tiếp theo, các phu nhân
không khỏi nói vài lời để an ủi Trang thị. Thái Sử Lệnh phu nhân người
có nhi tử là người đầu tiên bại trận liền mở lời trước. Trong lòng bà đã
nghẹn bấy lâu, nay coi như tìm được cơ hội, vội nói: “Phu nhân đừng lo,
tài học của nhị công tử ai ai cũng nhìn thấy, nếu có sơ suất thì cũng
chỉ là do vận rủi mà thôi. Huống hồ nhị công tử còn chưa tới hai mươi,
trong khi Tề Kính Thần đã gần ba mươi rồi, dẫu có thắng cũng chẳng đáng
tự hào, rõ ràng là ỷ lớn bắt nạt kẻ nhỏ” Lời này vừa dứt, các phu nhân
trong lòng đều cảm thấy không thỏa đáng. Tề Kính Thần tuy lớn tuổi hơn
nhị công tử, nhưng ngài đã làm quan hơn mười năm, đâu còn thời gian đóng
cửa đọc sách, nghiên cứu học vấn nữa. Trái lại nhị công tử vẫn là sĩ tử,
đọc sách là việc chuyên môn của hắn, vậy mà thua trong chính sở trường
của mình thì sao có thể nói là bị ‘ỷ lớn bắt nạt kẻ nhỏ’? Hơn nữa nếu đã
là bên thách đấu, thua cuộc rồi cũng nên tâm phục khẩu phục, đâu thể oán
trách. Tuy nhiên, những suy nghĩ ấy ai cũng chỉ dám để trong lòng, không
tiện nói ra. Lỡ nói thì vừa đắc tội với Thái Sử Lệnh phu nhân lại làm
phật ý Trang thị, điều này là tuyệt đối không thể. Vì vậy, mọi người đều
hùa theo lời nói kia, đồng loạt cho rằng Tề Kính Thần ỷ lớn bắt nạt kẻ
nhỏ, quả thật không quang minh chính đại. Nào ngờ lúc ấy nghe Yến Quốc
Công phu nhân khẽ cười một tiếng, nhẹ nhàng nói rằng: “Ỷ lớn bắt nạt kẻ
nhỏ? Lục học sĩ năm nay đã bảy mươi ba tuổi, ông ta trực tiếp cùng Sứ
Quân tranh luận, chẳng hóa ra càng là ỷ lớn bắt nạt kẻ nhỏ hay sao?” Mọi
người nghe tiếng quay đầu nhìn lại, thấy Yến Quốc Công phu nhân sắc đẹp
vô song, thong dong tựa nửa người lên thảm mềm, tay cầm chén vàng nhỏ
đựng rượu quả, hình như hơi say nhẹ, ánh mắt thanh tú nửa khép, đẹp đến
mức khiến người khác chẳng thể nói nên lời. Nàng không chỉ đẹp đến mức
không thể thốt lời, mà lời nàng nói ra cũng khiến người ta chẳng thể cãi
được. Chỉ có điều, lời ấy tuy xác thực, nhưng thẳng thừng như thế, chẳng
khác nào một cái tát giáng lên mặt Thái Sử Lệnh phu nhân, đồng thời còn
để lại dư âm nhẹ trên mặt các nữ nhân khác khiến ai nấy đều thấy khó xử.
Bọn họ vừa thấy mặt nóng bừng, vừa lấy làm lạ rằng: thương nữ thường ít
khi xuất hiện trong các hội họp, dù có thì cũng ít khi phát ngôn, huống
hồ lại nói lời sắc bén như thế, sao hôm nay lại phá lệ? Một cái tát kia
thật hả lòng người, nhưng với Thái Sử Lệnh phu nhân lại khó mà chịu đựng
được. Bà ta cũng nổi giận, liền đáp lại rằng: “Phu nhân lời nói ấy chẳng
phải vì xuất thân từ Đại Lương nên đứng về phe người Lương hay sao?”
Nghe vậy, mọi người trong lòng đều thầm kinh hãi, nghĩ rằng Thái Sử Lệnh
phu nhân quả là người quái lạ, dám động đến chuyện không vui của Yến
Quốc Công phu nhân. Ai cũng biết Cố Cư Hàn yêu thê tử như mạng, nếu ngài
ta biết chuyện này, e rằng Thái Sử Lệnh chẳng khác nào phải quỳ lạy xin
mạng. Lại nghe Yến Quốc Công phu nhân giọng lạnh lùng nghiêm khắc rằng:
“Học vấn nào phân biệt được giữa Bắc Ngụy và Đại Lương? Phu nhân nói vậy
mới thật là làm nhục Bắc Ngụy.” Lời nói ấy rất mạnh mẽ, nhưng còn mạnh
mẽ hơn chính là thần sắc của nàng. Nàng vốn xuất thân thương nữ, trong
giới quý tộc Thượng Kinh tuy mặt ngoài không nói ra, nhưng trong lòng
đều khinh thường nàng. Nay tuy đã ở tầng lớp cao được sủng ái, nhưng vẫn
chỉ là người hạ phẩm xuất thân thương gia nhà buôn. Vậy mà giờ đây lời
nói ra, thần thái lại uy nghiêm, thậm chí vài vị quận chúa đang được
sủng ái nhất cũng chưa chắc bằng khí thế này. Thái Sử Lệnh phu nhân quả
nhiên bị kinh động, cúi đầu không nói được lời nào. Không khí trong
phòng lặng đọng một lúc. Chung phu nhân thấy tình thế không ổn, định ra
làm hòa, thì nghe tiếng tiểu đồng thình lình chạy ào vào, thở hồng hộc
nói: “Lục tiên sinh cùng Sứ Quân đại nhân tranh luận văn thư, hai người
thảo luận kỹ về thật giả của vài bài văn hay, cùng nhau xem xét lâu, Lục
tiên sinh khen Sứ Quân đại nhân có học thức chân chính, phong khí học
thuật ở Giang Tả rộng mở, sáng sủa, quả là điều Bắc Ngụy không thể sánh
kịp.”